Danh sách các thuốc Điều trị đích trong ung thư phổi

Điều trị đích trong ung thư phổi đang là phương pháp hiệu quả khi ung thư đã lan rộng hoặc di căn sang các bộ phận khác khi mà các phương pháp điều trị khác đã không còn hiệu quả.

Ung thư phổi đã trở thành một căn bệnh nguy hiểm với tỉ lệ chẩn đoán bệnh phổ biến nhất trên toàn thế giới và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Hiện nay, cùng với sự phát triển của y học thì rất nhiều liệu pháp điều trị bệnh đã được triển khai với việc gia tăng tiên lượng cho các bệnh nhân. Điều trị trúng đích là một trong những liệu pháp điều trị đang được sử dụng để điều trị cho các bệnh nhân ung thư phổi. 

Tổng quan về ung thư phổi và Điều trị trúng đích

Ung thư phổi là gì? Có nguy hiểm không?

ung thư phổi

Phổi là hai cơ quan xốp trong ngực hấp thụ oxy khi bạn hít vào và giải phóng carbon dioxide khi bạn thở ra. Ung thư phổi hay còn gọi là ung thư biểu mô phổi, do khoảng 98–99% tất cả các bệnh ung thư phổi là ung thư biểu mô, là một loại khối u ác tính đặc trưng bởi sự phát triển tế bào không kiểm soát được trong các mô của phổi. 

Ung thư phổi rất nguy hiểm và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư trên toàn thế giới và cũng đứng đầu trong tỉ lệ chẩn đoán ung thư cụ thể chiếm khoảng 12.4% tổng số bệnh ung thư được chẩn đoán trên toàn thế giới. 

Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ ước tính tỷ lệ mắc mới hàng năm là hơn 234,000 trường hợp ung thư phổi mới và hơn 154,000 trường hợp tử vong liên quan đến ung thư phổi ở Hoa Kỳ.  Theo báo cáo Thống kê Ung thư Toàn cầu từ năm 2020, ung thư phổi vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư trên toàn thế giới, với ước tính khoảng 1.8 triệu ca tử vong. 

Những người hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư phổi cao nhất (ước tính lên đến 90%) mặc dù những người chưa bao giờ hút thuốc cũng có nguy cơ mắc bệnh này. Nguy cơ mắc bệnh sẽ tăng lên theo thời gian theo số lượng thuốc lá bạn đã hút. Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu cho rằng không có mối tương quan giữa bệnh ung thư phổi và số lượng gói thuốc đã hút mỗi năm do sự tương tác phức tạp giữa việc hút thuốc cùng các yếu tố môi trường và di truyền. Nếu bạn bỏ hút thuốc ngay sau khi hút thuốc trong nhiều năm thì bạn có thể giảm đáng kể khả năng và nguy cơ phát triển ung thư phổi. 

Nguy cơ mắc bệnh cũng gia tăng khi tiếp xúc với các chất gây ung thư khác, chẳng hạn như amiăng. Ngoài ra, việc tiếp xúc với các kim loại như crom, niken, asen và hydrocacbon thơm đa vòng cũng liên quan đến ung thư phổi. Các bệnh phổi như xơ phổi vô căn làm tăng nguy cơ ung thư phổi dù không hút thuốc lá. 

Điều trị trúng đích là gì? Ưu điểm

điều trị trúng đích

Khi bạn bị ung thư, một số tế bào nhất định không hoạt động bình thường do những thay đổi trong ADN (đột biến). Những đột biến này (mục tiêu phân tử) khiến các tế bào phát triển ngoài tầm kiểm soát. Trong ung thư phổi, những tế bào ung thư bất thường này hình thành đầu tiên trong các mô phổi.

Liệu pháp điều trị trúng đích hay điều trị nhắm đích là một liệu pháp điều trị ung thư khắc phục bất thường di truyền bằng cách sử dụng những loại thuốc mạnh mẽ nhằm vào các protein kiểm soát các tế bào ung thư phát triển, phân chia và lan rộng. Những loại thuốc mạnh mẽ này sẽ làm giảm ung thư và ngăn chặn sự phát triển của nó.

Điều trị trúng đích còn được gọi là y học chính xác hoặc y học cá nhân hóa. Nó thường được sử dụng cho bệnh nhân ở giai đoạn muộn khi tế bào ung thư đã lan rộng hay di căn khi những phương pháp trị liệu khác đã không thể thực hiện được.

Phần lớn liệu pháp điều trị trúng đích đều là thuốc phân tử nhỏ hoặc kháng thể đơn dòng (kháng thể điều trị). Có tới 30% bệnh nhân ung thư phổi có thể có các mục tiêu phân tử đáp ứng với liệu pháp điều trị trúng đích. Osimertinib, crizotinib và bevacizumab là một số loại thuốc điều trị nhắm đích được sử dụng để điều trị ung thư phổi. 

Lợi ích chính của liệu pháp nhắm mục tiêu là nó có thể tiêu diệt các tế bào ung thư mà không làm hỏng các tế bào khỏe mạnh. Nó cũng có thể ngăn chặn và làm chậm các tế bào ung thư phát triển. Ngoài ra, liệu pháp này cũng được đánh giá cao do ít tác dụng phụ so với liệu pháp hoá trị. 

Một vài loại thuốc dùng trong điều trị đích trong ung thư phổi

các loại thuốc điều trị đích trong ung thư phổi

Kháng thể đơn dòng

Cơ thể chúng ta sản xuất ra các kháng thể để chống lại các tế bào đột biến. Các phiên bản nhân tạo này hoạt động giống như các kháng thể bình thường, nhưng đi theo các tế bào ung thư. Loại thuốc kháng thể đơn dòng tác động trên thụ thể phần ngoài màng tế bào.

Các kháng thể đơn dòng được FDA[1] chấp thuận cho bệnh ung thư phổi bao gồm Bevacizumab (Avastin) và Ramucirumab (Cyramza). Những loại thuốc này cắt đứt các chất dinh dưỡng giúp tạo ra các mạch máu nuôi ung thư. 

Trong đó:

  • Thuốc Bevacizumab (tên thương mại là Avastin là liệu pháp kháng sinh mạch tức một loại kháng thể nhân tạo (IgG1). Nó hoạt động với cơ chế ngăn chặn một loại protein nhất định từ đó giảm lưu lượng máu cung cấp nuôi dưỡng khối u và làm chậm sự phát triển của tế bào, khối u ác tính. Nó được sử dụng dưới dạng dung dịch tiêm theo đường tĩnh mạch với hàm lượng: 4 ml (100 mg/4 ml) và 16 ml (400 mg/16 ml).
  • Ramucirumab (tên thương mại là Cyramza)  là một thuốc điều trị ung thư có chứa thành phần chính là ramucirumab. Nó điều trị ung thư bằng cơ chế hoạt động ngăn chặn sự phát triển của các mạch máu có tác dụng cung cấp oxy và những chất dinh dưỡng để nuôi dưỡng tế bào ung thư. Từ đây có thể ức chế tăng sinh khối u và thu nhỏ kích thước khối u. 

Các thuốc trọng lượng phân tử nhỏ

Thuốc trọng lượng phân tử nhỏ là một loại thuốc có thể xâm nhập vào tế bào dễ dàng vì nó có trọng lượng phân tử thấp. Khi vào bên trong tế bào, nó có thể ảnh hưởng đến các phân tử khác, chẳng hạn như protein và có thể khiến tế bào ung thư chết đi. Cơ chế này hoàn toàn khác với các loại thuốc có trọng lượng phân tử lớn vì chúng không thể xâm nhập vào bên trong tế bào một cách dễ dàng. 

Thuốc cho đột biến gen EGFR

Những chất ức chế EGFR có thể giúp trì hoãn sự lây lan của các tế bào ung thư cho những người bị ung thư phổi EGFR M + và có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của một người.

Điều trị bước một ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến EGFR(+) đã được chấp thuận với những loại thuốc ức chế tyrosine kinase (TKI) trúng đích phân tử EGFR, bao gồm Gefitinib, ErlotinibAfatinib. Cả 3 loại thuốc này đều chứng minh gia tăng tiên lượng và hiệu quả trong các thử nghiệm lâm sàng. Ngoài ra, DacomitinibOsimertinib cũng là hai loại thuốc được sử dụng để ức chế hoạt động tyrosine kinase của thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì. 

Trong đó:

  • Thuốc Gefitinib, tên thương mại là Iressa, là một loại thuốc được sử dụng cho bệnh nhân mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến triển hoặc di căn. Nó hoạt động giúp ức chế ức chế chọn lọc tyrosine kinase tức một protein ức chế hình thành mạch máu và tăng việc chết tế bào bướu từ đó làm chậm và giảm tiến triển của tế bào ung thư.
  • Erlotinib: có hoạt chất chính là Erlotinib hydrochloride. Nó là loại là thuốc ức chế kinase với cơ chế giảm sự gia tăng các tế bào ác tính, làm chậm lại quá trình phát triển từ đó chống ung thư phổi. Nó được đánh giá có độc tính thấp với hiệu quả cao với kết quả khả quan.
  • Afatinib cũng là một loại thuốc được sử dụng để điều trị ung thư phổi. Nó giúp ngăn chặn sự tiến triển của tế bào ung thư bằng nhiều cách. Cụ thể nó chặn tyrosine kinase trong tế bào ung thư từ đó thu nhỏ lại kích thước tế bào ung thư phổi.
  • Thuốc Dacomitinib: có cơ chế hoạt động tăng ức chế miền kinase của EGFR cũng như hoạt động ở trong những tế bào dòng chứa đột biến kháng thuốc. Ngoài ra, hoạt động này cũng làm giảm đáng kể phosphoryl hoá cùng khả năng sống của tế bào. Nó dùng điều trị cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ ở giai đoạn tiến triển hoặc đã di căn. 
  • Osimertinib là chất ức chế tyrosine kinase thụ thể (EGFR)  có chứa hoạt chất osimertinib. Loại thuốc này được dùng để điều trị cho bệnh nhân người lớn bị ung thư phổi không tế bào nhỏ.

Thuốc cho dạng đột biến gen khác

Ngoài ra còn có một dạng đột biến khác là đột biến ALK  (anaplastic lymphoma kinase). Ban đầu loại đột biến này được mô tả như đột biến trong ung thư hạch bạch huyết nhưng hầu hết ung thư dương tính với ALK nằm trong ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Gen ALK có trong cơ thể bạn khi bạn còn là một phôi thai. Nó giúp phát triển đường ruột và hệ thần kinh. Nó sẽ không hoạt động khi bạn vẫn còn trong bụng mẹ. Sự thay đổi gen được gọi là sự dung hợp ALK hoặc sự sắp xếp lại ALK có thể gây ra ung thư phổi.

Một số loại thuốc ức chế đột biến ALK gồm:

  • Alectinib, tên thương hiệu là Alecensa, có chứa thành phần Alectinib. Hoạt chất này là loại thuốc điều trị ung thư phổi cụ thể trong giai đoạn muộn tiến triển hoặc đã di căn có đột biến ALK.
  • Crizotinib, tên thương hiệu là Xalkori có thành phần chính là Crizotinib. Thuốc hoạt động bằng cách nhắm đích và ngăn chặn thụ thể tế bào ung thư đột biến ALK. Ngoài ra, nó còn được sử dụng cho người bị ung thư có đột biến gen ROS1.
  • Lorlatinib có tên thương hiệu là Lorbrena có chứa hoạt chất Lorlatinib. Cũng như Crizotinib, Lorlatinib hoạt động bằng cách nhắm đích và ngăn chặn thụ thể trên tế bào ung thư có đột biến ALK. Bằng cách ức chế ALK, thuốc từ đây làm chậm và khiến tế bào ung thư ngừng phát triển.

Kết luận

Phương pháp điều trị đích trong ung thư phổi là một phương pháp hữu hiệu giúp gia tăng tiên lượng trung bình của bệnh nhân mắc bệnh với một số tác dụng phụ nằm ở mức có thể chấp nhận được ở các nghiên cứu lâm sàng. Tuy nhiên một số rào cản và vấn đề liên quan đến chi phí khiến liệu pháp này vẫn chưa thực sự phổ biến tại Việt Nam.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *