Thuốc ức chế PARP trong ung thư vú

Liệu pháp ức chế PARP lần đầu tiên được giới thiệu như một liệu pháp nhắm đích trong điều trị ung thư vào năm 2005 và thuốc ức chế PARP trong ung thư vú đã thu được nhiều kết quả đáng khả quan. Liệu pháp này đã được các cơ quan quản lý dược phẩm lớn trên thế giới như Cơ quan Quản lý Dược phẩm châu Âu (EMA), Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt để điều trị cho các loại ung thư vú và ung thư buồng trứng. Bài viết tóm lược cơ chế tác động của nhóm thuốc PARP và ứng dụng của nó trong điều trị ung thư, mang lại niềm vui mới cho các bệnh nhân mắc ung thư, đặc biệt là khi không quá muốn sử dụng các phương pháp như hóa trị, xạ trị.

Chất ức chế PARP là gì?

chất ức chế parp là gì

Chất ức chế PARP (Poly ADP ribose polymerase hay PARP inhibitors) là chất ức chế y học. Là một loại protein mà khối u lệ thuộc vào để tự sửa chữa khuyết tật, hay nói cách khác PARP là một enzym liên quan đến sửa chữa ADN, đóng vai trò phục hồi tổn thương ADN và ngăn chặn quá trình tự hủy của tế bào trong cơ thể. Khi cơ thể bị ung thư, các tế bào tiếp quản cả chức năng này của PARP và lợi dụng nó để giúp cho khối u phát triển. 

Chất ức chế PARP có tác dụng ngăn chặn PARP sửa chữa ADN của khối u, khi kết hợp cùng hóa trị và xạ trị sẽ có hiệu quả hơn trong việc giúp tiêu diệt các tế bào ung thư. 

Hiện nay, các chất ức chế PARP được FDA[1] chấp thuận để điều trị ung thư vú di căn là: OlaparibTalazoparib.

Mối quan hệ giữa Chất ức chế PARP và đột biến gen di truyền BRCA1 và BRCA2

Xét về bản chất, ung thư là tên gọi chung của một tập hợp các bệnh có liên quan, là sự tích tụ của các đột biến gen ở một mức độ nhất định, khi các tế bào vượt qua giới hạn sống và trở nên mất kiểm soát và trở thành ung thư. 

Gen ung thư bẩm sinh là một trong những yếu tố chính gây đột biến gen, hiện nay có 2 dạng gen di truyền được giới y học công nhận là đột biến gen BRCA1 và BRCA2

BRCA1, BRCA2 và PALB2 là các protein quan trọng đối với việc sửa chữa các đứt gãy ADN sợi đôi. Khi gen của một trong những protein này bị đột biến, sự thay đổi có thể dẫn đến sai sót trong quá trình sửa chữa AND, khi chịu đủ tổn thương cùng một lúc, gen bị thay đổi có thể gây ra cái chết của các tế bào và cuối cùng có thể gây ra ung thư vú.

PARP là một protein quan trọng để sửa chữa các đứt gãy sợi đơn (‘lỗ’ trong DNA). Nếu những lỗ hổng như vậy vẫn không được sửa chữa cho đến khi ADN được sao chép (phải xảy ra trước quá trình phân chia tế bào), thì bản thân quá trình sao chép có thể gây ra đứt gãy sợi đôi.

Các chất ức chế PARP dẫn đến bẫy các protein PARP trên DNA ngoài việc ngăn chặn hoạt động xúc tác của chúng. Điều này cản trở quá trình sao chép, gây ra sự chết của tế bào ở các tế bào ung thư, vốn phát triển nhanh hơn các tế bào không phải ung thư.

Chất ức chế PARP chỉ được sử dụng để điều trị ung thư vú ở những người có đột biến gen di truyền BRCA1 hoặc BRCA2 (BRCA1/2).

Thực tế khi chữa trị, các bác sĩ sẽ căn cứ vào tình trạng của bệnh nhân để sử dụng kết hợp với các liệu pháp khác ví dụ như hóa trị, xạ trị.

Chức năng chính của xạ trị là tạo ra đứt gãy sợi DNA, gây tổn thương DNA nghiêm trọng và dẫn đến chết tế bào. Xạ trị có khả năng tiêu diệt 100% bất kỳ tế bào nào được nhắm mục tiêu, nhưng liều lượng cần thiết để làm như vậy sẽ gây ra các phản ứng phụ không thể chấp nhận được đối với mô khỏe mạnh.

Do đó, xạ trị chỉ có thể được thực hiện ở một mức độ tiếp xúc bức xạ nhất định. Kết hợp xạ trị với chất ức chế PARP mang lại nhiều hứa hẹn, vì chất ức chế sẽ dẫn đến hình thành các đứt gãy sợi kép từ các đứt gãy sợi đơn được tạo ra bởi xạ trị trong mô khối u có đột biến BRCA1 hoặc BRCA2. Do đó, sự kết hợp này có thể dẫn đến liệu pháp mạnh hơn với cùng liều bức xạ hoặc liệu pháp mạnh tương tự với liều bức xạ thấp hơn.

Thuốc ức chế PARP trong ung thư vú di căn

thuốc ức chế parp trong ung thư vú

Chất ức chế PARP có tác dụng nhất khi được sử dụng để điều trị ung thư vú.

Ở ung thư vú giai đoạn nặng và di căn, liệu pháp này không có quá nhiều tác dụng. Đa số, bác sĩ sẽ hướng dẫn bệnh nhân chuyển sang điều trị bằng hóa trị, xạ trị, liệu pháp nhắm trúng đích, ….

Tác dụng phụ của thuốc ức chế PARP

Giống như tất cả các liệu pháp điều trị ung thư khác, thuốc ức chế PARP cũng gây ra các tác dụng phụ khác nhau tùy thuộc vào cơ địa và phản ứng của từng bệnh nhân. Tuy nhiên những tác dụng phụ này thường có thể kiểm soát được và nếu liệu pháp PARP được dùng chung với các loại thuốc hay điều trị kết hợp với hóa trị, xạ trị thì bản thân người bệnh có thể cũng sẽ phải chịu ảnh hưởng tổ hợp từ những liệu pháp này.

Các tác dụng phụ thường gặp như là: 

  • Giảm tế bào máu trong cơ thể, gây hiện tượng thiếu máu, mệt mỏi, hay chóng mặt, khó thở.
  • Cơ thể dễ bị nhiễm trùng, viêm phổi, viêm phế quản.
  • Hay cảm thấy lạnh, rùng mình, đau họng, không khỏe ngay cả khi nhiệt độ bình thường.
  • Dễ bị bầm tím, chảy máu, chảy máu cam.
  • Hay buồn nôn, ợ nóng, khó tiêu, bị tiêu chảy bất thường.

Một số trường hợp khác ít gặp hơn:

  • Rụng tóc (đặc biệt là nếu kết hợp cùng hóa trị và xạ trị, trường hợp này sẽ trở nên nặng hơn rất nhiều).
  • Viêm da, phát ban, dễ bị mẩn ngứa

Theo dõi thường xuyên sau điều trị

theo dõi sau điều trị ung thư vú

Các bệnh nhân cần thường xuyên được theo dõi sát sao trong và sau quá trình điều trị. Người bệnh và người nhà bệnh nhân đặc biệt lưu ý rằng:

  • Chất ức chế PARP được sử dụng rộng rãi nhất là Olaparib và Talazoparib. Bệnh nhân khi dùng Olaparib nên tránh nước bưởi và cam vì những thứ này có thể ảnh hưởng đến cách thức hoạt động của thuốc.
  • Thuốc có thể gây ảnh hưởng đến khả năng lái xe do có khả năng gây chóng mặt, mệt mỏi khi dùng thuốc. Vì vậy bệnh nhân lưu ý không nên điều khiển các phương tiện giao thông khi đang chữa trị bằng loại thuốc này.
  • Một số loại thuốc không nên dùng cùng với chất ức chế PARP nên nếu cần thiết phải dùng, hãy liên hệ bác sĩ hoặc tới bệnh viện uy tín gần nhất để có được sự trợ giúp từ các bác sĩ chuyên môn.
  • Lưu ý không nên mang thai và cho con bú trong khoảng thời gian điều trị (hoặc trong một khoảng thời gian sau liều điều trị cuối cùng) vì thuốc ức chế PARP có thể gây hại cho em bé. Nên thử thai trước và sau khi điều trị để có thể kịp thời có phương án thích hợp nhất với từng bệnh nhân.

Nếu bệnh nhân chưa qua thời kỳ mãn kinh, nếu muốn mang thai sau khi điều trị, cần theo dõi chặt chẽ và hỏi ý kiến của bác sĩ một cách kỹ lưỡng (kể cả đối với người bệnh là nam) để có thể xác định được khoảng thời gian an toàn cho sự phát triển của em bé.

  • Nếu bạn đang lên kế hoạch cho một kỳ nghỉ hoặc cần đi du lịch nước ngoài, trước tiên cần thông qua sự đồng ý của bác sĩ. Vì việc thay đổi môi trường, đồ ăn, nước uống cũng sẽ có tác động không tốt nếu như cơ thể không khỏe mạnh.
  • Người bệnh cũng không nên tiêm các loại vắc xin sống nào trong khi đang điều trị như quai bị, sởi, rubella (sởi Đức), bại liệt, BCG (lao), bệnh zona và sốt vàng da. Vì khi đang điều trị bởi chất ức chế PARP, hệ thống miễn dịch sẽ suy yếu, các virut, vi khuẩn sống có trong vacxin sẽ gây hại cho cơ thể. Khiến người bệnh suy yếu hơn.
  • Ngoại trừ các lưu ý trên, người bệnh cũng cần luôn giữ cho tinh thần của bản thân thoải mái, vui vẻ, vận động nhẹ để linh hoạt hơn, ăn uống điều độ, bổ sung nhiều loại thực phẩm bổ máu và các loại đồ ăn nhiều vitamin, omega, …để tăng sức đề kháng.
  • Thường xuyên đi khám định kỳ, liên hệ ngay với bác sĩ khi cơ thể có dấu hiệu lạ, bất thường hoặc người bệnh có nhu cầu cần sử dụng thêm bất cứ loại thuốc nào.

Khi mà ung thư trở thành một vấn đề không phải của riêng khoa học mà còn của toàn xã hội, thì sự cần thiết các phương pháp mới, hiệu quả hơn nhưng ít tác dụng phụ hơn, luôn được đặt ra. Tuy chỉ mới phát triển gần đây nhưng Thuốc ức chế PARP trong ung thư vú đã nhanh chóng chứng minh được ưu điểm và tiềm năng của dù vẫn là một kỹ thuật mới với ít tác dụng phụ hơn và an toàn hơn.

Đừng quên theo dõi CHEK Genomics để cập nhật thông tin mới nhất nhé!.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *