Bại não trẻ sơ sinh: Dấu hiệu, Nguyên nhân, Cách phòng và Điều trị

Bại não là một loại rối loạn vận động thường xảy ra trước khi sinh đối với sự phát triển não bộ của trẻ. Ảnh hưởng của bại não trẻ sơ sinh gây ra rất nhiều khó khăn cho trẻ trong việc ăn, nuốt, đi lại hay giữ thăng bằng,… Đọc bài viết sau để biết bệnh bại não trẻ sơ sinh do đâu mà ra và các triệu chứng, cách điều trị của căn bệnh này.

Bại não trẻ sơ sinh là gì?

bại não

Bại não – Cerebral Palsy – CP là thuật ngữ mô tả một nhóm các rối loạn vận động gây ảnh hưởng đến khả năng di chuyển, giữ thăng bằng và tư thế của trẻ. Bại não ở trẻ sơ sinh là khuyết tật vận động phổ biến nhất ở trẻ em do rối loạn thần kinh cơ gây ra bởi sự tổn thương vỏ não vận động của não đang phát triển.

Theo số liệu của Hiệp hội Bại não Hoa kỳ[1], bệnh ảnh hưởng đến 500.000 trẻ em và người lớn. Trong đó có khoảng 8.000 trẻ sơ sinh và khoảng 1.200 – 1.500 trẻ ở tuổi học mẫu giáo được chẩn đoán mỗi năm. 

Bại não xuất hiện ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái, trẻ da đen nhiều hơn trẻ da trắng. Với từ 75% – 85% trẻ em bị bại não co cứng, các cơ của trẻ bị loại bại não này sẽ bị cứng, làm cho việc đi lại, di chuyển khó khăn. 

Bại não có thể được chia dựa trên các thể sau:

Bại não thể vận động

Trẻ bị bại não thể vận động sẽ gặp các rối loạn vận động quan sát được và những thể lâm sàng đều liên quan chặt chẽ đến vùng não bị tổn thương gồm:

  • Thể co cứng: thể này được đặc trưng bởi tình trạng cơ bị cứng quá mức ở trẻ khi chúng cố gắng di chuyển hoặc giữ bản thân ở một tư thế chống lại trọng lực. 
  • Thể tăng động: Thể tăng động có sự gia tăng hoạt động của các cơ, gây ra những vận động bất thường quá mức hoặc vận động bình thường quá mức. Đôi khi cả hai sự bất thường này đều sẽ xảy ra trong cùng một thời điểm. Bại não thể tăng động đặc trưng bởi những bất thường về trương cơ và các biểu hiện rối loạn vận động khác như trương lức, múa vờn hoặc múa giật.
  • Thể thất điều: thể này được đặc trưng bởi các chuyển động run rẩy, ảnh hưởng đến sự điều hợp và gây mất thăng bằng ở người bệnh. Loại bại não này thường rất ít gặp. 
  • Các thể vận động phối hợp: Với những biểu hiện nhiều hơn một thể vận động như tình trạng co cứng và loạn trương lực, với sự ưu thế của một thể vận động.

Bại não theo định khu

Bại não theo định khu đề cập đến sự phân bổ những khiếm khuyết và các phần cơ thể bị ảnh hưởng.  Các khiếm khuyết vận động có thể chỉ ảnh hưởng đến một bên của cơ thể hoặc ảnh hưởng đến cả hai bên cơ thể trẻ bệnh.

  • Bại não một bên: Gồm liệt một chi và liệt nửa người. Liệt một chi chỉ ảnh hưởng đến một chi của cơ thể, có thể là ở chân hoặc ở tay, ở bên phải hoặc ở bên trái.
  • Bại não hai bên: Gồm liệt hai chi, liệt ba chi và liệt tứ chi. Liệt hai chi thường xảy ra ở cả hai chân gây khiếm khuyết ở chức năng chi trên. Liệt ba chi chỉ ảnh hưởng đến ba chi của cơ thể và không gây ảnh hưởng đến chi thứ tư. Liệt tứ chi không chỉ ở cả bốn chi mà còn gây ảnh hưởng đến các bộ phận khác như đầu, cổ, toàn thân.
  • Bại não theo mức độ nặng. Ở mức độ này, bại não được mô tả và phân loại các khiếm khuyết vận động theo mức độ nặng. Có bốn hệ thống phân loại về các chức năng: khả năng vận động, khả năng giao tiếp, khả năng ăn uống. Các phân loại đều có sự liên quan đến cách trẻ bị bại não di chuyển – GMFCS, các trẻ bại não sử dụng tay trong các hoạt động hàng ngày – MACS,  cách trẻ bại não giao tiếp với người quen và không quen – CFCS, khả năng trẻ bại não ăn uống an toàn – EDACS.

Nguyên nhân gây bại não trẻ sơ sinh 

Nguyên nhân gây bại não trước sinh

Trước khi sinh, nếu mẹ bầu hoặc bào thai gặp phải một vài trường hợp đặc biệt sẽ gây ra tình trạng bại não ở trẻ sơ sinh:

  • Phụ nữ mang thai bị nhiễm trùng và mắc các bệnh lý khác trong thời kỳ mang thai: Khi phụ nữ mang thai gặp phải các nhiễm trùng trong khoảng thời gian 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây đến các tổn thương ở não của bào thai. Đây là nguyên nhân gây ra bại não sau này, nhiễm rubella, nhiễm trùng ối, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng đường sinh dục, nhiễm độc thai nghén, tiểu đường.
  • Bào thai bị thiếu oxy não: Nêys chức năng của nhau thai bị giảm sút hoặc bị bóc tách khỏi thành tử cung trước sinh sẽ gây ra tình trạng chảy máu và không cung cấp đầy đủ oxy cho thai nhi. Từ đó khiến cho tình trạng bại não ở trẻ xuất hiện.
  • Ngoài ra các bất thường về cấu trúc thần kinh hoặc mắc bệnh di truyền khác ở trẻ cũng là một trong những tiền đề làm cho nguy cơ mắc bệnh bại não tăng lên.

Nguyên nhân bại não trong khi sinh

Bại não do sinh non: Khi trẻ dinh ra trước tuần thứ 37 của thai kỳ, tức là từ ngày đầu tiên của kỳ kinh nguyệt cuối cùng trước khi có thai, thì sẽ được coi là sinh non. Nếu trẻ sinh ra trước tuần thứ 32 của thai kỳ hoặc là trước 28 tuần thai thì những trẻ này sẽ có nguy cơ bị bại não rất cao.

  • Trẻ bị ngạt trong quá trình chuyển dạ và sinh: Việc trẻ bị ngạt trong quá trình chuyển dạ được giới chuyên môn đánh giá là nguyên nhân hàng đầu trong hầu hết các trường hợp mắc bại não ở trẻ sơ sinh.
  • Bại não do sang chấn sản khoa: Khi xảy ra trường hợp sang chấn sản khoa, nhất là ở các trường hợp ca sinh khó, các bác sĩ cần phải nhanh chóng sử dụng các biện pháp hỗ trợ nhằm ngăn ngừa nguy cơ gây bại não ở trẻ sơ sinh. 

Nguyên nhân bại não sau sinh

Trẻ sơ sinh bị xuất huyết não: Khi trẻ bị xuất huyết não khi sơ sinh hoặc nhỏ thiếu vitamin K đều là các bệnh hay gặp, nếu như căn bệnh này không được quản lý và điều trị tốt thì các biến chứng của nó có thể gây ra bại não.

  • Trẻ bị vàng da nhân não: Vàng da ở trẻ sơ sinh có nguyên nhân chính là sự tích tụ sắc tố bilirubin trong máu do tốc độ phá hủy hồng cầu cao, chức năng gan ở trẻ chưa hoàn thiện. Nếu ở trường hợp nặng, các sắc tố này sẽ vượt qua hàng rào mạch máu não và lắng đọng trong các nhân nền của não, gây tổn thương các cấu trúc, gây bại não.
  • Bại não mắc phải: Là khi trẻ mắc các chứng bệnh là tổn thương thần kinh trong những năm đầu đời như viêm màng não mủ, viêm não, chấn thương sọ não,.. Đây đều là những nguyên nhân làm tăng nguy cơ bại não cao ở trẻ.

Không rõ nguyên nhân bị bại não

Trên thế giới có tới 30% trẻ em bị bại não nhưng không tìm thấy nguyên nhân đã đã thống kê lại. Những đứa trẻ mắc bệnh bại não không tìm được nguyên nhân vẫn là những câu hỏi hóc búa đối với các nhà khoa học. Một số ý kiến cho rằng có thể là do di truyền, nhưng vì chưa thể xác định chính xác nên những lời giải thích vẫn còn là một ẩn số đối với loại bại não này. 

Dấu hiệu bại não ở trẻ 

dấu hiệu bại não trẻ sơ sinh

Để nhận biết các dấu hiệu về bại não, cha mẹ cần thường xuyên quan sát và kiểm tra các mốc phát triển vận động ở trẻ từ khi trẻ vừa chào đời đến khi đã tròn 5 tuổi. Các dấu hiệu của bệnh bại não gồm:

Dấu hiệu bại não ở trẻ từ 3 đến 6 tháng tuổi

  • Khi trẻ được bế lên trong tư thế nằm ngửa thấy đầu của trẻ rũ ra sau.
  • Trẻ có thể bị cứng hoặc bị mềm nhũn.
  • Khi được bế, trẻ có dấu hiệu ngửa cổ hoặc ưỡn lưng quá mức. 
  • Hai chân trẻ bắt chéo và cứng đờ khi được bế lên. 

Dấu hiệu bại não ở trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên

  • Trẻ không lật được người sang các hướng khác nhau.
  • Chạm hai bàn tay vào nhau là điều không thể.
  • Gặp khó khăn khi cho bàn tay lên miệng.
  • Một tay nắm chặt và chỉ với được bằng một tay.

Dấu hiệu bại não ở trẻ từ 10 tháng tuổi trở lên 

  • Trẻ bò với tư thế lệch nghiêng bằng 1 tay và 1 chân, chân tay đối diện thì chỉ kéo lê.
  • Không thể bò bằng tứ chi mà chỉ di chuyển bằng mông hoặc nhảy bằng đầu gối. 

Biến chứng 

Bại não gây ra các biến chứng làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của những đứa trẻ mắc bệnh. Các biến chứng này bao gồm:

  • Tình trạng co rút cơ: các cơ bắp bị ngắn lại làm cho cơ bị rất căng, gây a có rút cơ thể làm hạn chế sự phát triển của xương, biến dạng xương, trật khớp hoặc bán trật khớp.
  • Lão hóa sớm: Biến chứng này thường gây ảnh hưởng ở những người bại não tuổi 40.
  • Thiếu dinh dưỡng: Trẻ gặp khó khăn trong ăn uống và trở ngại trong vấn đề nuốt. Trẻ bại não dễ bị suy dinh dưỡng gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của xương. Một vài trường hợp trẻ bị nặng còn phải sử dụng ống nuôi ăn để có đủ dinh dưỡng.
  • Gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần: Người bại não thường gặp các vấn đề về tâm thần, cô lập xã hội và khuyết tật của bản thân dễ làm họ bị trầm cảm.
  • Mắc bệnh tim, phổi: Dễ gặp các bệnh lý về tim, phổi và các rối loạn hô hấp.
  • Thoái hóa khớp: Áp lực xương khớp hoặc các biến dạng do cơ co rút dẫn đến thoái hóa khớp.
  • Loãng xương: Mật độ xương thấp thấp có thể gây gãy xương. 

Cách phòng và Điều trị

phòng và điều trị bại não

Cách phòng bệnh

Để phòng bệnh bại não ở trẻ sơ sinh cần:

  • Tiêm vaccin chống bệnh sởi, rubella để ngăn ngừa nhiễm trùng gây tổn thương cho não bào thai.
  • Chăm sóc sức khỏe mẹ bầu.
  • Sử dụng các dịch vụ trước sinh từ sớm thường xuyên để giảm các rủi ro sức khỏe cho cả mẹ và bé. Tham khảo dịch vụ xét nghiệm sàng lọc trước sinh không xâm lấn NIPS
  • Bảo vệ bé khỏi những thương tích ở vùng đầu.

Cách điều trị bại não 

Để điều trị bệnh bại não ở trẻ cần có các điều kiện tiên quyết sau:

  • Có đội ngũ y tế toàn diện để chăm sóc trẻ bại não lâu dài.
  • Sử dụng các loại thuốc giúp giảm căng cứng của cơ bắp và cải thiện các chức năng của cơ xương khớp.
  • Rèn luyện cơ bắp và sử dụng các bài tập giúp cơ thể linh hoạt, cân bằng.
  • Có thể sử dụng phương pháp niềng răng cho trẻ.
  • Sử dụng các thiết bị hỗ trợ cho việc đi lại và sử dụng ngôn ngữ.
  • Phẫu thuật để giảm bớt sự căng cơ hoặc điều chỉnh các bất thường của xương do co cứng cơ.
  • Ghép tế bào gốc để điều trị bại não. 

CHEK Genomics hy vọng qua bài viết cha mẹ có thể nắm chắc các kiến thức về căn bệnh bại não trẻ sơ sinh. Các kiến thức này sẽ giúp cho cả mẹ và bé được khỏe mạnh. Mẹ bầu nên khám sức khỏe thai kỳ thường xuyên để giảm các rủi ro gây bệnh bại não ở trẻ. 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.