Rối loạn chuyển hóa Tyrosine là gì? Có di truyền không?

Rối loạn chuyển hóa Tyrosine là một trong những loại rối loạn chuyển hóa acid amin do việc thiếu enzym để chuyển hóa tyrosine. Tuy đây không phải là một bệnh nghiêm trọng nhưng việc phát hiện trễ có thể để lại những hậu quả xấu ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ. Việc sàng lọc trước khi sinh hoặc xét nghiệm cho trẻ sơ sinh như xét nghiệm NIPS là một trong những vấn đề nên được ưu tiên hàng đầu để phát hiện các bệnh như rối loạn chuyển hóa tyrosine.

Rối loạn chuyển hóa Tyrosine là gì? 

rối loạn chuyển hóa Tyrosine

Rối loạn chuyển hóa tyrosine hay còn gọi là tyrosinemia là một rối loạn chuyển hóa axit amin do thiếu enzym cần thiết để chuyển hóa tyrosine.

Dạng bệnh phổ biến nhất của rối loạn này chủ yếu ảnh hưởng đến gan và thận. Tyrosinemia xảy ra khi cha mẹ truyền một gen khiếm khuyết gây ra chứng rối loạn này cho con cái của họ.

Việc chẩn đoán dựa trên xét nghiệm máu. Một chế độ ăn uống đặc biệt đi kèm với thuốc có thể giúp ích cho một số trẻ mắc bệnh. Khoảng 10 phần trăm trẻ sơ sinh sinh ra với nồng độ tyrosine tăng tạm thời (tyrosine máu thoáng qua). Trong những trường hợp này hầu hết nguyên nhân không phải do di truyền. Nguyên nhân rất có thể là do thiếu vitamin C hoặc men gan chưa trưởng thành do sinh non.

Mức độ phổ biến

Trên toàn thế giới, thì rối loạn loại I có tỷ lệ đến khoảng 1:100.000 người. Loại này phổ biến hơn ở Na Uy, là nơi cứ 60.000 đến 74.000 người thì có 1 người bị mắc chứng này. Tyrosinemia loại I thậm chí còn phổ biến hơn ở Quebec, Canada[1] với tỉ lệ xảy ra ở khoảng 1/16.000 người. Ở vùng Saguenay-Lac St. Jean của Quebec, rối loạn loại I có tỉ lệ đến 1 trong 1.846 người.

Rối loạn loại II xảy ra ở ít hơn 1:250.000 người trên toàn thế giới. Tyrosinemia loại III rất hiếm trong đó chỉ một số trường hợp đã được báo cáo.

Triệu chứng

Rối loạn chuyển hóa tyrosine loại 1

rối loạn chuyển hóa tyrosine loại 1

Đây là dạng nặng nhất của rối loạn này. Nó đặc trưng bởi các dấu hiệu và triệu chứng bắt đầu trong vài tháng đầu đời của trẻ. 

Trẻ sơ sinh bị rối loạn chuyển hóa tyrosine loại I sẽ không tăng cân và tăng trưởng theo tốc độ mong đợi (không phát triển mạnh) do khả năng dung nạp thức ăn kém vì thức ăn giàu đạm dẫn đến tiêu chảy và nôn mửa. Trẻ sơ sinh bị rối loạn cũng có thể bị vàng da và vàng lòng trắng của mắt, có mùi giống như bắp cải và có xu hướng chảy máu nhiều hơn (đặc biệt là chảy máu cam). 

Bệnh cũng có thể dẫn đến suy gan và thận, làm mềm và yếu xương (còi xương, loãng xương) và tăng nguy cơ ung thư gan (ung thư biểu mô tế bào gan). Một số trẻ bị ảnh hưởng bị khủng hoảng thần kinh lặp đi lặp lại bao gồm thay đổi trạng thái tinh thần, giảm cảm giác ở tay và chân (bệnh thần kinh ngoại biên), đau bụng và suy hô hấp. Các cơn khủng hoảng này có thể kéo dài từ 1 đến 7 ngày. Nếu không được điều trị, trẻ em mắc bệnh loại I thường không sống sót qua 10 tuổi.

Rối loạn chuyển hóa tyrosine loại 2

Loại II có thể ảnh hưởng đến mắt, da và sự phát triển trí não. Các dấu hiệu và triệu chứng thường bắt đầu ở thời thơ ấu. Điển hình là đau và đỏ mắt, chảy nước mắt nhiều, nhạy cảm bất thường với ánh sáng (sợ ánh sáng) và da dày, đau ở lòng bàn tay và lòng bàn chân (chứng tăng sừng lòng bàn tay). Khoảng 50 phần trăm người mắc bệnh loại II bị khuyết tật trí tuệ ở một mức độ nào đó.

Rối loạn chuyển hóa tyrosine loại 3

Đây là loại hiếm gặp nhất trong ba loại. Các dấu hiệu đặc trưng của loại này bao gồm thiểu năng trí tuệ, co giật (động kinh), phối hợp kém và mất thăng bằng và mất thăng bằng không liên tục.

Nguyên nhân

Tyrosinemia I xảy ra khi một enzym, được gọi là fumarylacetoacetase (FAH)[2] bị đột biến thiếu hoặc không hoạt động bình thường. Khi FAH không hoạt động, nó không thể phá vỡ tyrosine. Tyrosine và các chất có hại khác sau đó tích tụ trong máu. Một trong những chất này được gọi là succinylacetone. Khi chất này tích tụ trong máu hay trong tế bào ống thận và tế bào gan, nó sẽ gây tổn thương gan và thận nghiêm trọng. Nó cũng có thể gây ra các đợt cảm thấy yếu hoặc đau.

Tyrosinemia loại II là kết quả của một đột biến trong gen TAT  mã hóa enzyme tyrosine aminotransferase. Do thiếu hụt TAT nên các chất nền tyrosine tích tụ và gây ra các bất thường về nhãn khoa và da liễu. 

Tyrosinemia loại III là kết quả của một đột biến trong gen HPD mã hóa enzym 4-hydroxyphenylpyruvate dioxygenase. Đây là loại bệnh rối loạn chuyển hóa tyrosine hiếm gặp nhất trong ba loại. Hiện chỉ có một số trường hợp mắc loại này được báo cáo. Hầu hết các trường hợp đó đã có những triệu chứng bao gồm thiểu năng trí tuệ và rối loạn chức năng thần kinh. 

Bệnh rối loạn chuyển hóa Tyrosine có di truyền không?

Đây là bệnh di truyền kiểu lặn trên NST thường tức cả 2 bản sao của gen trong mỗi tế bào đều có đột biến. Bố mẹ của người mắc bệnh có thể là người dị hợp tử mang tính trạng lặn không biểu hiện kiểu hình, triệu chứng của bệnh rối loạn chuyển hóa tyrosine nhưng người con vẫn có thể mắc bệnh.

Để mắc bệnh, đứa trẻ phải bị đột biến gen gây bệnh này từ cha và mẹ. Trong những gia đình có cả cha và mẹ đều mang đột biến gen thì cứ bốn người thì có một nguy cơ con bị mắc bệnh tyrosinemia. 

Cách chẩn đoán và điều trị

Cách chẩn đoán

Tyrosinemia được chẩn đoán dựa trên xét nghiệm máu và xét nghiệm nước tiểu. Việc xét nghiệm chức năng gan bình thường hay bất thường hoặc chỉ số albumin huyết thanh thấp và các yếu tố đông máu cũng thường được cho là một cách chẩn đoán tốt. Sản phẩm Succinylacetone có thể được đo trong nước tiểu từ đây xác nhận chẩn đoán.

Tại Hoa Kỳ, việc sàng lọc bệnh được đưa vào chương trình sàng lọc sơ sinh vì vậy ngày nay trẻ em thường được phát hiện mắc bệnh khi chúng được ra đời. Tại Việt Nam hiện tại vẫn có vài cơ sở cung cấp dịch vụ này.

Việc xét nghiệm cho trẻ còn đang trong bụng mẹ cũng có thể thực hiện được. Các bác sĩ có thể phát hiện đột biến hoặc đo lượng succinylacetone trong nước ối.

Điều trị rối loạn chuyển hóa Tyrosine

Bác sĩ có thể sẽ cần làm việc với một bác sĩ chuyển hóa và chuyên gia dinh dưỡng để chăm sóc cho trẻ. Việc điều trị là suốt đời để ngăn ngừa các vấn đề về gan và thận.

Phương pháp điều trị bệnh hiện tại là kết hợp giữa chế độ ăn uống ít protein và một loại thuốc gọi là Nitisinone. Nitisinone giúp ngăn ngừa sự hình thành của các sản phẩm phân hủy độc hại. Nên tránh các loại thịt, sản phẩm từ sữa và các loại thực phẩm giàu protein khác như các loại hạt và đậu. Một chế độ dinh dưỡng tốt, bổ sung đầy đủ vitamin và khoáng chất để giúp trẻ phát triển bình thường. 

Trẻ em mắc chứng này cần được theo dõi cẩn thận để đảm bảo sự phát triển bình thường và vì trẻ có nguy cơ phát triển ung thư gan. Trẻ em được điều trị sau sàng lọc sơ sinh dường như không phát triển bệnh gan trong thời thơ ấu. Vì những lý do không xác định, một số trẻ em mắc bệnh đều gặp khó khăn trong học tập

Thuốc

thuốc

Một loại thuốc gọi là nitisinone (Orfadin®), còn được gọi là NTBC, được sử dụng để ngăn ngừa tổn thương gan và thận. Nó cũng ngăn chặn các cuộc khủng hoảng thần kinh. Thuốc làm giảm nguy cơ ung thư gan. Trẻ mắc bệnh nên bắt đầu dùng Nitisinone càng sớm càng tốt. Đây là loại thuốc được bác sĩ kê đơn.

Nitisinone sẽ làm tăng mức độ tyrosine trong máu của con bạn. Vì vậy, một chế độ ăn ít tyrosine là một phần rất quan trọng trong điều trị này. Vitamin D đôi khi cũng được sử dụng để điều trị cho trẻ em phát triển các vấn đề về xương như loãng xương hoặc còi xương.

Không dùng bất kỳ loại thuốc nào khác khi chưa hỏi ý kiến và bàn bạc với bác sĩ điều trị.

Sữa công thức đặc biệt

Một số sản phẩm sữa công thức dành cho trẻ sơ sinh mắc rối loạn chuyển hóa tyrosine giúp trẻ hấp thu các chất dinh dưỡng và protein cũng như đồng thời giữ mức tyrosine trong phạm vi an toàn. Bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng sẽ cho bạn biết loại sữa công thức nào là tốt nhất và nên sử dụng bao nhiêu.

Chế độ ăn ít tyrosine và phenylalanine  

Chế độ ăn kiêng bao gồm việc ăn uống các loại thực phẩm có rất ít tyrosine và phenylalanine có nguồn gốc từ protein. Điều này có nghĩa là trẻ sẽ cần hạn chế các loại thực phẩm giàu protein như sữa bò và sữa công thức thông thường. Trẻ cũng cần phải cần tránh các chế phẩm từ sữa như: thịt, trứng và pho mát. Bột mì thông thường, đậu khô, các loại hạt và bơ đậu phộng có chứa các axit amin này và do đó bạn cũng phải hạn chế.

Nhiều loại rau và trái cây chỉ có một lượng nhỏ phenylalanin và tyrosine do đó bạn có thể ăn chúng thường xuyên với một số lượng nhất định được cho phép.

Có những loại thực phẩm y tế khác dành cho trẻ em mắc bệnh này như bột mì đặc biệt, mì ống và gạo được chế biến đặc biệt dành cho những người mắc bệnh rối loạn chuyển hóa tyrosine. Hiện tại những sản phẩm, thực phẩm này vẫn chưa có mặt tại Việt Nam.

Bác sĩ chuyển hóa và chuyên gia dinh dưỡng sẽ quyết định chế độ ăn và những thực phẩm tốt nhất cho con bạn. Chế độ ăn sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, cân nặng, sức khỏe chung của con bạn và hiệu quả của thuốc. Chuyên gia dinh dưỡng của bạn sẽ điều chỉnh chế độ ăn uống của con bạn theo thời gian.

Thực hiện xét nghiệm máu, nước tiểu và các xét nghiệm khác

Trẻ có thể sẽ được bác sĩ yêu cầu xét nghiệm máu và nước tiểu thường xuyên để kiểm tra:

  • Mức axit amin
  • Lượng succinylacetone
  • Mức nitisinone
  • Chức năng gan và thận

Những xét nghiệm này giúp bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng giúp tìm ra liệu có cần thay đổi thuốc hoặc chế độ ăn uống hay không.

Một số chuyên gia có thể sẽ đề nghị trẻ em mắc bệnh rối loạn chuyển hóa Tyrosine loại 1 chụp CT hoặc MRI gan mỗi năm một lần để kiểm tra xem có bị sẹo hoặc ung thư hay không.

Ghép gan

Trước khi có thuốc nitisinone, ghép gan là một trong những phương pháp điều trị chính cho bệnh này. Giờ đây, nitisinone có thể ngăn ngừa hoặc cải thiện nhiều vấn đề về gan và giảm nguy cơ phát triển ung thư gan. Đối với hầu hết trẻ em thì nitisinone sẽ trì hoãn và ngăn chặn bệnh tiến triển xấu đến mức phải cân nhắc việc ghép gan. 

Ghép gan vẫn là cách duy nhất để điều chỉnh sự chuyển hóa của tyrosine nhưng điều này đã ít khi cần thiết hơn ở trong bối cảnh hiện tại. Hơn 90% trẻ em đáp ứng rất tốt với Nitisinone và chế độ ăn uống.

Tuy nhiên ghép gan vẫn là một lựa chọn tốt cho những trẻ có dấu hiệu ung thư gan hoặc suy gan hay mắc bệnh cấp tính không đáp ứng nhanh với Nitisinone.

Nếu bạn có thắc mắc hãy nói chuyện với bác sĩ chuyển hóa hoặc bác sĩ điều trị của trẻ về những lợi ích và rủi ro của việc cấy ghép gan. Sau khi được cấy ghép, trẻ em có thể ăn một chế độ ăn uống bình thường và có cuộc sống năng động, khỏe mạnh.

Kết luận

Dù là một căn bệnh không nguy hiểm nhưng việc tầm soát sớm để phát hiện Bệnh Rối loạn chuyển hóa Tyrosine là một điều cần thiết để giúp trẻ có thể có một cuộc sống khỏe mạnh cũng như nhận được các phương pháp điều trị và trợ giúp y tế một cách sớm nhất.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.