image OncotypeDx logo

Dành cho bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm (I, II hoặc IIIa), HR (thụ thể nội tiết tố) dương tính, HER2 âm tính có hoặc không di căn hạch (di căn 1 – 3 hạch)

Patient

Lí do nên làm xét nghiệm

image icon 1

Xét nghiệm Điểm nguy cơ tái phát ung thư vú là xét nghiệm duy nhất được chứng minh để dự đoán lợi ích của hóa trị

Các nghiên cứu đã liên tục chỉ ra rằng bài xét nghiệm Điểm tái phát nguy cơ ung thư vú là xét nghiệm duy nhất có thể dự đoán liệu bạn có được hưởng lợi từ hóa trị liệu hay không
image icon 2

Hơn 1,5 triệu bệnh nhân ung thư vú, tuyến tiền liệt và ung thư đại trực tràng đã dựa vào xét nghiệm Oncotype DX để biết thông tin chi tiết giúp định hướng các quyết định điều trị của họ

Nếu không có các xét nghiệm này, bác sĩ chỉ có thể ước tính khả năng tái phát ung thư của bạn bằng cách xem xét các yếu tố như tuổi tác, kích thước khối u, cấp độ khối u và tình trạng hạch bạch huyết
image icon 3

Xét nghiệm Điểm nguy cơ tái phát ung thư vú được bao gồm trong mọi hướng dẫn điều trị ung thư vú

Bao gồm cả Mạng lưới Ung thư Toàn diện Quốc gia” (NCCN). Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ (ASCO), Hội đồng Đồng thuận Quốc tế St. Gallen, Viện Sức khỏe và Chăm sóc Xuất sắc Quốc gia (NICE) và Hiệp hội Ung thư Y khoa Châu Âu (ESMO)

Xét nghiệm gen duy nhất được chứng minh giúp dự đoán lợi ích của hoá trị1,2 với bệnh nhân ung thư vú

Các khối u độc nhất cần một xét nghiệm được thiết kế độc đáo/ Mỗi khối u là độc nhất và cần một liệu pháp điều trị riêng biệt

– Cung cấp kết quả Điểm nguy cơ tái phát, đánh giá biểu hiện của 21 gen—16 gen liên quan đến ung thư và 5 gen tham chiếu—trong một mẫu khối u sử dụng RT-PCR3

– Đánh giá bộ gen toàn diện bao gồm nguy cơ tái phát di căn khi chỉ điều trị với liệu pháp nội tiết4

– Dự đoán lợi ích của việc thêm hóa trị vào liệu pháp nội tiết1,2

– Cung cấp Điểm ER định lượng để giúp đánh giá mức độ lợi ích của liệu pháp nội tiết cùng với thông tin hỗ trợ bổ sung như điểm PR và HER23

Hiểu rõ hơn về sinh học khối u cụ thể, đánh giá rủi ro và mức độ lợi ích của hóa trị để giúp thông tin điều tốt nhất cho bệnh nhân

Diễn giải kết quả

Exact Science làm cho việc hiểu kết quả xét nghiệm Oncotype Dx Breast Recurrence Score® trở nên dễ dàng nhất có thể

image Interpreting the report

Phân tích Phân nhóm Khám phá cho TAILORx và NSABP B-20:

Lợi ích hóa trị tuyệt đối cho sự tái phát theo độ tuổi và kết quả RS

image oncotype age

Được công nhận trong tất cả các hướng dẫn điều trị ung thư vú

Xét nghiệm Điểm nguy cơ tái phát ung thư vú Oncotype Dx được công nhận là tiêu chuẩn chăm sóc. Nó được bao gồm trong các hướng dẫn hàng đầu về ung thư như Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ (ASCO®), Mạng lưới Ung thư Toàn diện Quốc gia® (NCCN), hội đồng Đồng thuận St. Gallen, Viện Quốc gia về Chăm sóc Sức khỏe Xuất sắc (NICE), Hiệp hội Ung thư Y tế Châu Âu (ESMO) và Hiệp hội Ung thư Phụ khoa Đức (AGO).5-10

*Hiệp hội Ung thư lâm sàng Hoa Kỳ (ASCO) và ASCO là thương hiệu đã đăng ký của ASCO: Mạng lưới Ung thư Toàn diện Quốc gia

Kết quả thử nghiệm TAILORx cung cấp câu trả lời chính xác cho những bệnh nhân không di căn hạch

Kết quả của thử nghiệm chỉ định các lựa chọn điều trị cho cá nhân (Rx) (TAILORx) đã xác định chắc chắn 70% phụ nữ bị ung thư vú giai đoạn sớm, không di căn hạch sẽ không nhận được lợi ích khi điều trị hóa trị và 30% có lợi ích hóa trị đáng kể.4,11,12

image Clinical indication VN
Những bệnh nhân phù hợp để thực hiện xét nghiệm

Những bệnh nhân phù hợp với xét nghiệm Điểm nguy cơ tái phát ung thư vú Oncotype Dx
– Mới được chẩn đoán ung thư vú xâm lấn
– Đủ điều kiện sức khoẻ để hoá trị

Với tình trạng lâm sàng khối u:
– Khối u ở giai đoạn I, II hoặc IIIa
– Thụ thể nội tiết tố dương tính (HR+)
– Thụ thể yếu tố trăng trưởng biểu bì 2 ở người âm tính (HER2-)

Quy Trình Thực Hiện Xét Nghiệm

bac si e1653391125546

Chỉ Định

Bác sĩ tư vấn, chỉ định thực hiện xét nghiệm

tumor blood

Thu Mẫu

CHEK Genomics sẽ liên hệ thu mẫu mô có sẵn của bệnh nhân

lab

Phân Tích

Mẫu được vận chuyển đến phòng xét nghiệm Genomic Health (USA) để thực hiện phân tích

Consultation

Trả Kết Quả

Bác sĩ sẽ nhận kết quả xét nghiệm trong 10-14 ngày làm việc sau khi mẫu đến phòng xét nghiệm

References:

1. Paik S, Tang G, Shak S, et al. Gene expression and benefit of chemotherapy in women with node-negative, estrogen receptor-positive breast cancer. J Clin Oncol. 2006;24(23):3726-3734
2. Albain KS, Barlow WE, Shak S, et al. Prognostic and predictive value of the 21-gene recurrence score assay in postmenopausal women with node-positive, oestrogen-receptor-positive breast cancer on chemotherapy: a retrospective analysis of a randomised trial. The Lancet Oncology. 2010;11(1):55-65.
3. Kim C, Tang G, Pogue-Geile KL, et al. Estrogen receptor (ESR1) mRNA expression and benefit in the treatment and prevention of estrogen receptor-positive breast cancer. J Clin Oncol. 2011;29(31):4160-4167.
4. Sparano JA, Gray RJ, Makower DF, et al. Adjuvant Chemotherapy Guided by a 21-Gene Expression Assay in Breast Cancer. N Engl J Med. 2018;379(2):111-121.
5. Harris LN, Ismaila N, McShane LM, et al. Use of Biomarkers to Guide Decisions on Adjuvant Systemic Therapy for Women With Early-Stage Invasive Breast Cancer: American Society of Clinical Oncology Clinical Practice Guideline. J Clin Oncol. 2016;34(10):1134-1150.
6. Referenced with permission from the NCCN Clinical Practice Guidelines in Oncology (NCCN Guidelines®) for Breast Cancer V 2.2022. © National Comprehensive Cancer Network, Inc. 2022. All rights reserved. Accessed May 2, 2022. To view the most recent and complete version of the guideline, go online to NCCN.org. NCCN makes no warranties of any kind whatsoever regarding their content, use or application and disclaims any responsibility for their application or use in any way.
7. NICE Guidelines. Gene expression profiling and expanded immunohistochemistry tests for guiding adjuvant chemotherapy decisions in early breast cancer management: MammaPrint, Oncotype DX, IHC4 and Mammostrat. Diagnostics guidance [DG10]. 2013.
8. Senkus E, Kyriakides S, Ohno S, et al. Primary breast cancer: ESMO Clinical Practice Guidelines for diagnosis, treatment and follow-up. Ann Oncol. 2015;26(Suppl 5):v8-30.
9. Coates AS, Winer EP, Goldhirsch A, et al. Tailoring therapies–improving the management of early breast cancer: St Gallen International Expert Consensus on the Primary Therapy of Early Breast Cancer 2015. Ann Oncol. 2015;26(8):1533-1546.
10. www.ago-online.de Guidelines Breast Cancer.
11. Sparano JA, Gray RJ, Makower DF, et al. Prospective validation of a 21-gene expression assay in breast cancer. N Engl J Med. 2015;373(21):2005-2014.
12. Sparano JA, Gray RJ, Makower DF, et al. Adjuvant chemotherapy guided by a 21-gene expression assay in breast cancer. N Engl J Med. 2018;379(2):111-121.

Tìm Hiểu Thêm Về Xét Nghiệm Oncotype Dx

Ung thư vú có thể tái phát sau phẫu thuật cắt bỏ khối u?

Ung thư vú được xem là căn bệnh u ác tính phổ biến ở phụ nữ, không chỉ trên thế giới mà còn ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong những thập kỉ gần đây, nhờ sự phát triển của khoa học chẩn đoán phân tử, tỉ lệ bệnh nhân tử vong do ung thư vú đã giảm đáng kể nhờ việc chẩn đoán sớm cũng như việc cải thiện phác đồ điều trị. Nếu bạn bị chẩn đoán với bệnh ung thư vú không xâm lấn (ung thư vú giai đoạn đầu), liệu pháp điều trị tiên quyết sẽ là phẫu thuật cắt bỏ khối u. Tuy nhiên sau đó, việc tái phát bệnh là hoàn toàn có thể xảy ra nếu các tế bào ung thư chưa được giải quyết triệt để. Do vậy, sau khi phẫu thuật, bác sĩ điều trị thông thường sẽ chỉ định thực hiện liệu pháp hóa trị bổ sung để ngăn ngừa khả năng tái phát bệnh.

Hóa trị bổ trợ đôi khi không thật sự cần thiết?

Hóa trị là phương pháp điều trị sử dụng thuốc chống ung thư để tiêu diệt tế bào ung thư. Và nguy hiểm là các loại thuốc, hóa chất dùng trong hóa trị cũng sẽ tiêu diệt luôn những tế bào khỏe mạnh bình thường. Do vậy bên cạnh khả năng điều trị, hóa trị cũng sẽ mang đến rất nhiều tác dụng phụ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe lâu dài. Như vậy, có cần thiết phải thực hiện hóa trị hay không? Trong khi thực tế thông qua các đợt thử nghiệm của Trung tâm Y tế Montefiore New York cho thấy, 60-70% bệnh nhân ung vú sau khi phẫu thuật đã phải chịu đựng tác dụng phụ không mong muốn của hóa trị khi mà việc này không có ý nghĩa nhiều về mặt trị liệu lâm sàng, tức là không có sự khác biệt giữa việc thực hiện hóa trị hay không.

Làm thế nào để biết khi nào cần thực hiện liệu pháp hóa trị bổ sung?

Khi xem xét lựa chọn điều trị bổ trợ tốt nhất cho ung thư vú giai đoạn đầu, bác sĩ thường xem xét về tuổi tác, sức khỏe tổng quát và tiền sử bệnh của bạn và gia đình, cũng như kích thước và tính chất của khối u, liệu có xâm lấn đến bất kỳ hạch bạch huyết hay di căn đến các cơ quan khác hay không.

Để có được thông tin như vậy, các bác sĩ thường chỉ định xét nghiệm chẩn đoán phân tử của khối u bằng cách kiểm tra hoạt động của 21 gen liên quan trực tiếp đến khả năng tái phát khối u và khả năng đáp ứng điều trị hóa trị trong mô khối u. Xét nghiệm này có tên gọi là Oncotype Dx bắt đầu đưa vào thực hiện tại Mỹ từ năm 2004. Kết quả phân tích được đưa vào một công thức tính toán để đưa ra kết quả “điểm tái phát” (Recurrence Score), một con số dao động từ 0 đến 100, có thể cung cấp thông tin về khả năng ung thư vú của bạn tái phát trong vòng 10 năm sau khi chẩn đoán và, có lẽ quan trọng hơn là có hay không việc bạn sẽ được hưởng lợi từ hóa trị bổ sung.

Điểm tái phát (Recurrence Score) là gì? Có cần thiết thực hiện liệu pháp hóa trị hay không? Khi nào bệnh nhân không cần thực hiện hóa trị?

Là kết quả cuối cùng của xét nghiệm. Theo thang điểm từ 0-100. Điểm càng cao, ung thư vú càng có khả năng quay trở lại và bạn càng có nhiều khả năng được hưởng lợi từ việc thực hiện hóa trị.lúc này hóa trị bổ trợ sẽ có tác dụng nhiều hơn trong việc phòng ngừa tái phát.

Cụ thể:

Screenshot 2022 05 27 154233

Nếu bạn cần tư vấn thêm , vui lòng điền thông tin theo form bên dưới