Virus HPV là gì? Mức độ nguy hiểm của HPV Virus

Trong 100 chủng virus HPV được phát hiện thì có đến hơn 40 chủng gây bệnh về đường sinh dục. Và có khoảng 15 chủng trong số đó là tiền đề để gây ra bệnh ung thư cổ tử cung. Đọc bài viết dưới đây để tìm hiểu về các khái niệm, chủng loại,  cách điều trị và phòng ngừa virus này. 

virus hpv

Tổng quan

Virus HPV là gì?

hình dạng virus hpv

Virus HPV là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra các bệnh lây truyền qua đường tình dục. HPV là tên viết tắt của virus Human Papilloma Virus, loại virus gây u nhú ở người. Có rất nhiều loại virus HPV ảnh hưởng đến các bộ phận khác nhau của cơ thể. Có tới 40 loại gây các bệnh về đường sinh dục, gây mụn ở bộ phận sinh dục và hậu môn, hoặc các bệnh liên quan đến âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, bìu, trực tràng,.. Trong số đó có khoảng 15 loại  nguy hiểm gây bệnh ở cơ quan sinh dục và gây nên các loại ung thư.

Những bệnh do virus HPV gây ra thường lây truyền qua đường tình dục hoặc qua tiếp xúc da kề da với người bệnh. Tùy vào từng loại virus gây bệnh để phân biệt bệnh nhân có bị nhiễm virus hay không.Có những người bị nhiễm virus mà không có bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng nào cũng có thể mắc ung thư cổ tử cung. Hiện nay tiêm vắc xin là một biện pháp hữu ích nhất để phòng chống các chủng virus HPV có khả năng gây mụn cóc sinh dục hoặc ung thư cổ tử cung ở nữ giới.  

Các loại virus HPV 

Theo thống kê, các nhà khoa học đã xác định được hơn 100 loại virus HPV khác nhau. Tuy đa số loại đều vô hại, không có triệu chứng và có thể tự khỏi mà không cần can thiệp y tế, nhưng cũng có những loại gây bệnh rất nguy hiểm.

Có hơn 40 loại chủng virus HPV gây ra các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục và hậu mông. Trong đó có 15 chủng HPV có nguy cơ cao gây ra các bệnh ung thư khác nhau cho cổ tử cung, hậu môn hoặc các bộ phận sinh dục khác. Những loại khác có thể gây ra tình trạng mụn cóc ở bàn tay, bàn chân, lòng bàn chân, bộ phận sinh dục. Các chủng virus HPV gây bệnh thường gặp:

Virus HPV 6 và HPV 11

Hai loại virus này là những chủng HPV nguy cơ thấp. Với 90% sự xuất hiện của chúng được phát hiện ở các trường hợp người bệnh có tình trạng mụn cóc sinh dục. Virus HPV 11 cũng là nguyên nhân gây ra những thay đổi bất thường ở cổ tử cung. 

Biện pháp để phòng ngừa HPV 6 và HPV 11 hữu hiệu dành cho bạn là tiêm phòng vắc xin HPV. Qua nghiên cứu cho thấy vắc xin HPV có thể đạt hiệu quả lên đến 89 – 99% trong phòng chống HPV 6 và HPV 11 ở đối tượng từ 9 – 26 tuổi. 

Trong trường hợp người bệnh tái nhiễm HPV 6 hoặc HPV 11, họ sẽ được bác sĩ điều trị kê đơn các loại thuốc như Aldara, Zyclara hoặc Condylox (imiquimod, podofilox). Loại thuốc này sử dụng để bôi ngoài da, có tác dụng trong việc phá hủy các mô mụn cóc ở bộ phận sinh dục người bệnh. 

Virus HPV 16 và HPV 18

HPV 16 thuộc chủng HPV nguy cơ cao, người mắc thường không gặp phải bất kỳ triệu chứng đáng chú ý nào cả. Virus HPV 16 là tác nhân gây ra bệnh ung thư cổ tử cung phổ biến hàng đầu ở nữ giới.

HPV 18 cũng thuộc chủng HPV nguy cơ cao. Loại virus này cũng không gây triệu chứng cho người bệnh nhưng lại là nhân tố gây ra bệnh ung thư cổ tử cung.

Hai chủng virus trên là căn nguyên của 70% các trường hợp phụ nữ bị ung thư cổ tử cung trên toàn cầu. Cách để bảo vệ bạn trước hai chủng HPV này chính là tiêm vắc xin HPV.

Con đường lây nhiễm và mức độ nguy hiểm của virus HPV 

Virus HPV lây truyền qua những con đường nào 

Virus HPV lây truyền qua đường tình dục và qua tiếp xúc da. Người khỏe mạnh có thể bị nhiễm HPV từ người mang trong mình virus qua quan hệ bằng miệng, hậu môn và âm đạo. Căn bệnh này có thể lây từ người bệnh sang người khỏe ngay cả khi người bệnh không có triệu chứng hoặc dấu hiệu mắc mệnh. 

Việc lây lan HPV không phụ thuộc vào số lần quan hệ hoặc số người quan hệ. Những người bệnh bị nhiễm HPV ngay cả khi chỉ quan hệ với một người duy nhất nhiễm bệnh. Nếu bạn có đời sống tình dục không lành mạnh, hoặc quan hệ với quá nhiều người thì không chỉ HPV mà còn rất nhiều bệnh tình dục khác sẽ gõ cửa nhà bạn. 

Các triệu chứng của bệnh thường sẽ không xuất hiện sớm mà phải qua vài năm sau quan hệ với người nhiễm mới có biểu hiện. Vì vậy mà những người bị bệnh thường không thể xác định chính xác họ bị nhiễm bệnh vào thời điểm nào.

Virus HPV cũng có thể lây qua đường từ mẹ sang con. Tuy nhiên có rất ít trường hợp bệnh nhi bị phát hiện nhiễm bệnh thông qua con đường lây truyền này.

Virus HPV có nguy hiểm không? 

Virus HPV sẽ tồn tại trong cơ thể người bệnh suốt đời. Nó tồn tại ngay cả khi người nhiễm bệnh không có bất kỳ biểu hiện bệnh hay đã được điều trị rồi. Nếu cơ thể không thể chống lại virus sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người bệnh. Đặc biệt, những tế bào bình thường của cơ thể sẽ trở lên bất thường và gây ra ung thư. 

Virus HPV có gây ung thư không?

Người nhiễm HPV thường không có biểu hiện ra ngoài triệu chứng của bệnh. Bệnh nhân có thể tự khỏi mà không gặp phải các triệu chứng. Đối với những bệnh nhân nhiễm các chủng nguy hiểm có thể gặp có tình trạng sức khỏe như mụn cóc, mụn rộp. Mụn sẽ có nhiều kích thước từ to đến nhỏ, từ nhô cao đến xẹp xuống. Nhưng HPV là nguyên nhân gây ra căn bệnh ung thư cổ tử cung phổ biến ở phụ nữ.

Các bệnh nhân mắc ung thư cổ tử cung hầu như đều có chung một nguyên nhân là do nhiễm virus HPV. Loại virus này phải cần từ 10 – 20 năm hoặc thời gian nhiễm virus khá dài mới phát triển thành ung thư cổ tử cung. Việc tiêm phòng vắc xin là biện pháp cần thiết để phòng ngừa HPV xâm nhập. 

Ở giai đoạn đầu, người mắc ung thư cổ tử cung có các triệu chứng giống với các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục nên thường khó để người bệnh chú ý đến. Vậy nên phụ nữ cần kiểm soát các tình trạng trên bằng cách làm các xét nghiệm tế bào tử cung thường xuyên để phát hiện các bất thường ở cổ tử cung.

Các khuyến cáo khuyến khích phụ nữ từ 21 – 29 tuổi cần làm các xét nghiệm Pap 3 năm một lần. Phụ từ trong khoảng từ 30 – 65 tuổi nên làm xét nghiệm Pap 3 năm/ lần hoặc 5 năm/lần nếu xét nghiệm ADN HPV cùng lúc. Đối với phụ nữ trên 65 tuổi, có thể ngừng xét nghiệm nếu đã xét nghiệm Pap 3 lần bình thường hoặc 2 lần xét nghiệm HPV ADN bình thường.  

Ngoài ra virus HPV còn gây ra một số loại ung thư khác như ung thư hậu môn, ung thư dương vật, ung thư âm hộ, ung thư âm đạo. 

Cách điều trị 

Phương pháp chẩn đoán

Xét nghiệm Pap Smear 

xét nghiệm pap smear

Xét nghiệm tế bào học nhằm thu thập và phân tích các tế bào ở cổ tử cung để phát hiện các bất thường về cấu trúc và hình thái… Những yếu tố bất thường xảy ra đều có thể là mầm mống của ung thư cổ tử cung. Phương pháp này giúp phát hiện bệnh sớm và giúp phát hiện HPV.

Xét nghiệm này không gây đau và thường kéo dài trong vài phút. Sau khi lấy mẫu, phụ nữ có thể thấy khó chịu hoặc chảy máu nhẹ ở âm đạo. 

Xét nghiệm Thinprep

Xét nghiệm tế bào cổ tử cung được cải tiến bằng cách dùng chổi tế bào để lấy các tế bào ở cổ tử cung. Các tế bào được rửa trong chất lỏng định hình và cho vào lọ Thinprep bảo quản trong phòng thí nghiệm. Sau quá trình tách chiết và phế tế bào lên mặt lam kính, bác sĩ giải phẫu sẽ tiến hành phân tích mẫu và đưa ra kết quả. 

Xét nghiệm ADN của HPV

Xét nghiệm này sử dụng hệ thống máy tách chiết ADN tự động và công nghệ hiện đại để xác định virus HPV có xuất hiện hay không. Phương pháp này cũng giúp khẳng định 100% phụ nữ có mắc ung thư cổ tử cung không. Từ đó mà có thể đánh giá được nguy cơ phát triển của bệnh để có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. 

Cách điều trị 

Loại bỏ các trường hợp nhiễm HPV tự khỏi mà không cần điều trị, có khoảng 70 – 90% người bệnh có thể tự khỏi do hệ thống miễn dịch loại bỏ được virus ra khỏi cơ thể. Cách để điều trị các triệu chứng của bệnh là:

  • Sử dụng phương pháp phẫu thuật lạnh: Phương pháp này sử dụng nitơ lỏng để làm đông lạnh mụn cóc.
  • Cắt bỏ phẫu thuật điện vòng LEEP: Loại bỏ các tế bào bất thường bằng cách sử dụng một vòng dây đặc biệt.
  • Đốt điện: Sử dụng dòng điện để đốt các mụn cóc.
  • Sử dụng liệu pháp Laser: Dùng ánh sáng có cường độ cao để tiêu diệt mụn cóc hoặc các tế bào bất thường của người bệnh.
  • Sử dụng thuốc bôi ngoài: Bôi thuốc trực tiếp lên các mụn cóc.

Cách phòng tránh Virus HPV

Để phòng tránh virus HPV cần áp dụng các biện pháp sau:

  • Quan hệ tình dục lành mạnh, không quan hệ với nhiều bạn tình cùng lúc.
  • Xét nghiệm Pap – Thinprep – HPV ADN định kỳ 3 năm một lần để phát hiện những bất thường của cổ tử cung.
  • Dừng quan hệ tình dục khi nghi ngờ hoặc phát hiện mắc sùi mào gà. Đi khám để được điều trị kịp thời. 
  • Tiêm ngừa đủ 3 mũi HPV để phòng tránh nhiễm virus ung thư cổ tử cung.
  • Kiểm tra sức khỏe định kỳ, ăn uống lành mạnh để bảo vệ sức khỏe.

Nguồn tham khảo

Ngoài những virus HPV có thể tự khỏi thì đây là một loại virus gây bệnh ung thư cổ tử cung nguy hiểm ở phụ nữ. Cả nam và nữ nên tiêm phòng vắc xin HPV để chống lại sự xâm hại của chủng virus này. CHEK Genomics hy vọng bài viết có thể giải đáp được các thắc mắc của bạn và cung cấp thêm cho bạn những kiến thức hữu ích nhất.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.